Phong Uyên – Trần Đức Thảo và Phật Giáo không gặp nhau ở điểm nào cả
08/02/2010 | 3:21 chiều | 17 phản hồi
Chuyên mục: Tôn giáo, Tư tưởng
Thẻ: duy vật biện chứng > hiện tượng luận > Phật giáo > Trần Đức Thảo
Trong mục “Tôn giáo. Tư tưởng” trên talawas ngày 4-2-2010, tác giả Hồ Trung Tú đưa ra luận điểm là có những điểm trùng hợp giữa những ý niệm của triết gia Trần Đức Thảo trong cuốn Recherches sur l’origine du langage et de la conscience (Những tìm kiếm về cội nguồn của ngôn ngữ và ý thức) và những ý niệm trong Kinh “Thập nhị Nhân duyên” của đạo Phật. Luận điểm này khá độc đáo, khiến người biết ít nhiều về Trần Đức Thảo như tôi vội vã đọc lại Trần Đức Thảo, thử tìm kiếm coi giữa những quan niệm của nhà triết học lừng danh thế giới này và triết lý nhà Phật có những điểm nào có thể coi là trùng hợp nhau không.
Tôi xin thú thực có ý nghĩ ngược lại là triết gia Trần Đức Thảo hoàn toàn xa lạ với Phật giáo. Có thể có sự hiểu lầm là vì những ý niệm triết học của Trần Đức Thảo viết bằng tiếng Pháp không được hiểu đúng nghĩa khi dịch ra tiếng Việt.
Tôi xin tác giả Hồ Trung Tú thứ lỗi phải phản biện những ý chính trong bài viết của tác giả:
1. Trần Đức Thảo không bao giờ “từ bỏ con đường Hiện tượng luận, ngả hẳn về phía chủ nghĩa duy vật biện chứng”
Tôi xin nhắc lại là cuốn sách đưa Trần Đức Thảo ngang hàng với các triết gia nổi tiếng nhất nước Pháp, nếu không muốn nói là cả thế giới thời bấy giờ như J.P. Sartre, L. Althusser, không phải là cuốn Những tìm kiếm về cội nguồn… xuất bản năm 1973 mà là cuốn Phénoménologie et matérialisme dialectique (Hiện tượng luận và duy vật biện chứng) xuất bản năm 1950. Cuốn sách này đã làm mê hồn (fascination) triết gia J. Derrida khi còn là sinh viên, và làm loá mắt ngay cả L. Althusser, ông thày Marxiste ngự trị Phố d’Ulm cả nửa thế kỷ. Sở dĩ như vậy là vì lần đầu tiên có một triết gia thuộc phái Husserl là Trần Đức Thảo đã thành công trong việc kết hợp hiện tượng luận của Husserl với duy vật biện chứng của Marx.
Cũng cần phải nhắc qua hiện tượng luận của Husserl là gì:
Theo Husserl, hiện tượng luận là phương pháp triết học mà cái “Tôi thuần túy” (Ego cogito) tìm cách, bằng kinh nghiệm thuần túy đã được gạn lọc bởi trực giác, xuyên qua những hiện tượng (hình thức biểu hiện) của những sự vật, để phát hiện ra những cấu trúc siêu nghiệm của ý thức và những bản chất (essences) của mọi sự vật.
2. Những khái niệm của Husserl và của duy vật biện chứng đều ngược lại với những ý niệm nhân duyên trong thuyết luân hồi của đạo Phật
Trong thuyết Phật, mọi “hiện tượng” chỉ là hư ảo cần phải loại bỏ vì nó chỉ là những biểu hiện của những sự vật không có thật. Trái lại Husserl coi mọi hiện tượng đều là điểm khởi đầu trong sự đi tìm có ý hướng bản chất thuần túy của mọi thực tại. Duy vật biện chứng cũng coi những hiện tượng là có thật vì phản ánh mọi sự vật được tạo ra từ vật chất, kể cả những sự vật có tính cách tinh thần.
Cái Tôi “giai cấp” của Marx cũng như cái Tôi “thuần túy” của Husserl đều không có trong đạo Phật. Đạo Phật là Vô ngã.
“Vô minh” trong Thập nhị Nhân duyên không phải là “vô thức” (trước khi có ý thức) mà có nghĩa là không sáng suốt (minh) để thấu hiểu mối “Khổ”, tính chất căn bản của cuộc sống. “Hành” trong kinh Phật là làm những hành động tạo “Nghiệp” chứ không phải là có những hoạt động (activités) bắt buộc phải có của bất cứ sinh vật nào dù nhỏ bé tới đâu, kể cả những tế bào.
“Thức” đây không phải là “ý thức” (conscience) mà là cái kết quả tốt xấu của Nghiệp, quy định sự tái sinh trong vòng luân hồi.
Cũng cần nên biết là theo triết lí Phật mọi sự đều có nhân có quả và biến chuyển theo vòng luân hồi nên không có đầu có đuôi và bị khép kín. “Vô minh” là mối đầu mà cũng là mối cuối. Trái lại, triết học Tây phương kể cả biện chứng lịch sử (lịch sử không bao giờ vòng trở lại, nghĩa là có chu kỳ như quan niệm về lịch sử của Tàu), luôn luôn cho là mọi sự đều tiến triển theo đường thẳng, nên có sự tiến hoá, sự bành trướng và sự tiến bộ vô cùng tận. Quan điểm Marxiste vẫn còn mang nặng ý tưởng Chúa không ngừng Sáng tạo của Thiên Chúa giáo nên luôn luôn lạc quan về tương lai là vì vậy.
Nếu tác giả Hồ Trung Tú chịu khó đọc lại cuộc đời và những tác phẩm của Trần Đức Thảo, sẽ thấy thời kỳ có nhiều sáng tác có giá trị nhất là thời kỳ còn ở Pháp. Những tác phẩm viết tại Việt Nam chỉ là theo đơn đặt hàng. Cuốn Những tìm kiếm về cội nguồn ngôn ngữ và ý thức chỉ là những thêm thắt của những bài triết gia Trần Đức Thảo phải viết cho Tập san Đại học Sư phạm ngay từ số 1 năm 1955: Bài 1 “Nguồn gốc ý thức trong sự tiến hoá của hệ thần kinh”. Bài 2 “Biện chứng pháp của hệ thần kinh”.
Phải xác định vô bằng chứng là hệ thần kinh con người tiến hoá từ loài vật đã tạo ra ý thức và Biện chứng pháp có từ cách đây 2500 năm cũng ở hệ thần kinh mà ra, nghĩa là ở vật chất mà ra, thì quả là một sự quá miễn cưỡng đối với một triết gia. Những bài viết về hệ thần kinh của Trần Đức Thảo cách đây hơn nửa thế kỷ phần lớn là lấy lại từ những sách về cơ thể học và phôi sinh học cho sinh viên y khoa năm thứ nhất còn để lại sau cuộc di cư năm 1954, và một phần là tài liệu tuyên truyền cho khoa học Liên Xô, nên đã quá lỗi thời, không thể là những “xác định quan trọng”, những bước “đi xa hơn” như ông Hồ Trung Tú nghĩ.
Sở dĩ cuốn sách này được Editions Sociales (Nhà Xuất bản Xã hội) của Đảng Cộng sản Pháp cho in năm 1973 sau Hội nghị Paris, là vì chính quyền hồi đó có ý nới tay cho Trần Đức Thảo có cơ hội tiếp xúc lại với giới trí thức thiên tả Paris luôn luôn bênh vực chính phủ Hà Nội thời đó, chứ không phải là vì tầm quan trọng của những công trình khảo cứu được trình bày trong cuốn sách này mà hiện nay chả còn ai biết đến.
Những năm gần đây, với sự tiến triển của khoa não bộ học, và khoa hồi sinh khiến có những trường hợp bị coi là chết vì bộ não không biểu lộ một hoạt động gì nữa lại được hoàn sinh. Những người “chết đi sống lại” này kể lại những kinh nghiệm của mình trong khi chết gọi là “kinh nghiệm cận tử” (Near Dead Experience, NDE) thấy mình bay khỏi xác, khiến những khẳng định là bộ não tạo ra tinh thần, tạo ra ý thức cần phải được xem xét lại. Có lẽ câu hỏi của ông Hồ Trung Tú “ý thức con người từ đâu mà có” sẽ tìm được câu trả lời.
© 2010 Phong Uyên
© 2010 talawas
Phản hồi
17 phản hồi (bài “Phong Uyên – Trần Đức Thảo và Phật Giáo không gặp nhau ở điểm nào cả”)
« Trang trước 1 2
Theo tôi hiểu thì Duy Vật biện chứng và Phật giáo không gặp nhau.
Vì duy vật biện chứng dùng lý luận để tìm hiểu chân lý, còn Phật giáo dùng trí huệ để thấu đạt chân lý. Hai bên dùng hai phương pháp khác nhau.
Xin giải thích thêm :
Phật giáo quan niệm vũ trụ có nhiều tầng giới trong đó có sắc giới, vô sắc giới, v.v…
Muốn hiểu các cảnh giới khác nhau thì cái trí cần có các khả năng khác nhau. Ví dụ muốn nhận biết sắc giới thì sử dụng khả năng của lục thức, hoặc ngũ uẩn đã tạm đủ. Nhưng lục thức không có khả năng khảo sát vô sắc giới, bởi vậy đạo Phật dạy khai mở thêm huệ trí để giúp con người tìm hiểu vô sắc giới cùng các cảnh giới cao siêu hơn.
Muốn khảo sát về kinh tế học, chính trị học thì cái tri thức thông thường đã tạm đủ, nhưng muốn tìm hiểu pháp giới, vô sắc giới, linh hồn, chân tâm của vũ trụ mà dùng cái trí phàm thì tôi e rằng nó không có khả năng.
Khoa học đã dạy dùng phương tiện khác nhau để giải các bài toán khác nhau. Do đó, muốn đi tiếp qua bờ bên kia (đáo bỉ ngạn) thì ta phải bỏ lại chiếc bè tức là cái trí lý luận phàm trần. Nhưng có điều khó là cái trí lý luận phàm trần của ta đã dùng quen mà bỏ không quen.
Bời vì biết khả năng giới hạn của lý luận, của ngôn ngữ cho nên người xưa đã nhắc nhở :
- Suốt 49 năm thuyết pháp ta không nói một lời nào – Phật Thích Ca
- Giáo pháp của ta như ngón tay chỉ mặt trăng. – Phật Thích Ca
- Đạo khả đạo phi thường đạo – Lão Tử
- Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền – Bồ Đề Đạt Ma
Theo thiển ý triết lý của đạo Phật vừa uyên áo, thâm trầm vừa gần gũi lẫn xa xôi với cuộc sống mà đôi khi ngôn ngữ con người chưa đủ sức diễn tả hết.
Bởi vậy một học giả về Phật học có thể biết rất nhiều về Phật giáo nhưng chưa chắc đã hiểu được đạo Phật bằng các nhà chân tu vốn tiếp cận với đạo Phật hơn.
Triết gia Trần Đức Thảo cho đến cuối đời vẫn chưa ngộ (awake) được sự thật trước mắt thì sao gọi triết lý của ông ấy gần với đạo Phật được.
Tôn giáo nào có nền tảng đạo lý cao cả lẫn phù hợp với các lý giải khoa học sẽ vẫn tồn tại và có chỗ đứng trang trọng tương lai.